Việt Nam và hợp tác phát triển tiểu vùng sông Mê Công

Sông Mê Công là dòng sông lớn của khu vực Đông Nam Á với chiều dài 4.880 km chảy qua sáu quốc gia. Dòng sông bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, Trung Quốc, đi qua tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), sang Mi-an-ma, Lào, Thái Lan, Campuchia và đổ ra Biển Đông tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Dòng sông là nguồn sống của gần 60 triệu người ở khu vực, trong đó khoảng 75% thuộc khu vực nông thôn. Đối với Việt Nam, dòng sông có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của hai vùng kinh tế trọng điểm là vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, và là nơi hơn 20 triệu người dân sinh sống.

Việt Nam và hợp tác phát triển tiểu vùng sông Mê Công

Hợp tác tiểu vùng Mê Công đóng góp tích cực thúc đẩy xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển và nâng cao đời sống nhân dân các nước trong lưu vực trong Mê Công

Xu thế hợp tác, kết nối kinh tế đã, đang và sẽ tiếp tục phát triển mạnh ở nhiều tầng nấc khác nhau, tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu. Tiểu vùng Mê Công cũng nằm trong xu thế chung này. Thêm vào đó, sáu nước trong Tiểu vùng còn có chung dòng sông Mê Công, dòng sông mang lại những lợic ích chung cho các nước Tiểu vùng. Việc hợp tác khai thác dòng sông hợp lý, lâu dài, bền vững, bảo đảm lợi ích của tất cả các nước, đặc biệt các nước hạ nguồn là yêu cầu khách quan và phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế. Các cơ chế hợp tác tiểu vùng Mê Công phản ánh xu thế phát triển của hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, và đã trở thành “mắt xích” quan trọng trong quá trình liên kết và hội nhập kinh tế của các nước trong lưu vực. Nội dung hợp tác Mê Công cũng rất đa dạng, gồm nhiều lĩnh vực như: du lịch, cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải, thương mại – đầu tư, nông nghiệp, y tế, năng lượng, phát triển nguồn nhân lực, môi trường và bảo vệ nguồn nước.

Xuất phát từ nhu cầu hợp tác để cùng phát triển, từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay, các nước Mê Công đã khởi xướng và xây dựng nhiều cơ chế hợp tác liên vùng như Chương trình hợp tác tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS), Hợp tác liên vùng nghèo dọc hàng lang Đông – Tây (WEC), Uỷ hội sông Mê Công (MRC), Hợp tác phát triển lưu vực sông Mê Công – ASEAN (AMBDC), Tam giác phát triển Việt Nam – Lào – Campuchia (CLV), Hợp tác bốn nước Campuchia – Lào – Mi-an-ma – Việt Nam (CLMV), và Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyawady – Chao Phraya – Mê Công (ACMECS).

Do vị trí địa – chính trị – kinh tế quan trọng, tiểu vùng Mê Công đã và đang thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế và các đối tác phát triển, trong đó có các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, và Hàn Quốc. Một loạt cơ chế hợp tác giữa các nước tiểu vùng sông Mê Công và các nước đối tác đã hình thành như Hợp tác sông Mê Công – sông Hằng (MGC) (2000), Hợp tác kinh tế Vịnh Bắc bộ mở rộng (2006), Hợp tác Mê Công – Nhật Bản (2008), Hợp tác các nước hạ nguồn sông Mê Công – Mỹ (2009), và gần đây nhất là Hợp tác Mê Công – Hàn Quốc, Hợp tác các nước Hạ nguồn Mê Công và những người bạn (2011).

Thời gian qua, hợp tác về môi trường và quản lý nguồn nước đã trở thành một trọng tâm trong nhiều khuôn khổ hợp tác. Điều này xuất phát từ yêu cầu phối hợp nỗ lực nhằm bảo đảm cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường lưu vực sông Mê Công cũng như ứng phó với biến đổi khí hậu.

Các khuôn khổ hợp tác tiểu vùng Mê Công đã góp phần quan trọng vào củng cố hòa bình, ổn định, hội nhập và phát triển trong lưu vực và khu vực. Thông qua các cơ chế hợp tác, các kênh, diễn đàn mới được hình thành giúp các nước trong lưu vực tìm kiếm những biện pháp thúc đẩy hợp tác kinh tế, giải quyết các vấn đề chung của khu vực, và sử dụng tối đa tài nguyên trên cơ sở thảo luận bình đẳng, tự nguyện và cùng có lợi. Ủy hội sông Mê Công quốc tế (MRC) là một ví dụ điển hình. Đây là tổ chức duy nhất có chức năng xây dựng các khuôn khổ pháp lý, trong đó có các quy chế ràng buộc đối với các quốc gia thành viên về chia sẻ công bằng, hợp lý tài nguyên nước và cùng nhau bảo vệ môi trường sinh thái lưu vực sông cũng như thúc đẩy các dự án chung.

Các khuôn khổ hợp tác tiểu vùng đã giúp huy động nguồn lực tài chính, hỗ trợ kỹ thuật và công nghệ cho phát triển. Nhật Bản đã cam kết dành 20 triệu USD cho các nước Campuchia, Lào, Mi-an-ma, Việt Nam để phát triển hạ tầng mềm Hành lang kinh tế Đông – Tây (EWEC) và Hành lang TP Hồ Chí Minh – Phnôm pênh – Băng Cốc; 20 triệu USD cho hợp tác Tam giác phát triển Campuchia, Lào và Việt Nam. Trong năm 2011, Chính phủ Mỹ cam kết hỗ trợ các nước Hạ nguồn Mê Công 3,25 triệu USD cho giáo dục, 69 triệu USD cho môi trường, 140 triệu cho y tế và 9 triệu USD cho các chương trình về phát triển cơ sở hạ tầng. Tính đến cuối năm 2010, hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS), với sự hỗ trợ của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), đã huy động được 55 khoản vay với tổng giá trị là 11,6 tỷ USD từ các nhà tài trợ như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), Quỹ Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC),… (trong đó, ADB cho vay 2 tỷ USD). Việt Nam đã tham gia vào 18 khoản vay với tổng giá trị là 2,7 tỷ USD. Cũng đến thời điểm này, ADB đã thông qua 203 dự án hỗ trợ kỹ thuật với tổng giá trị là 231.4 triệu USD phục vụ xây dựng năng lực, cố vấn chính sách và nghiên cứu về các lĩnh vực khác nhau trong hợp tác GMS. Các nước Mê Công cũng nhận được hỗ trợ kỹ thuật từ các đối tác phát triển trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, môi trường và biến đổi khí hậu v.v.

Các khuôn khổ hợp tác tiểu vùng Mê Công đã góp phần quan trọng cho phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội, đặc biệt là hạ tầng giao thông, thúc đẩy tăng trưởng, liên kết kinh tế tiểu vùng. Chương trình GMS đã rất thành công trong việc xây dựng phần cơ sở hạ tầng vật chất nhằm tăng cường mối liên kết giữa các quốc gia phục vụ cho việc xây dựng Hành lang kinh tế Đông – Tây, Hành lang kinh tế Bắc – Nam và Hành lang kinh tế phía Nam. Nhiều tuyến giao thông quan trọng đã được xây dựng như đường cao tốc Phnôm Pênh – TP Hồ Chí Minh, hành lang Giao thông Đông-Tây từ Mukdahan – Savannakhet – Quảng Trị – Đà Nẵng, đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai, tuyến giao thông ven biển phía Nam từ Ca Mau tới Kiên Giang. Việc thực hiện Kế hoạch hành động Viên Chăn 2008 – 2010 của GMS đã đạt được những kết quả quan trọng, bao gồm: cơ bản kết nối hành lang giao thông, các dự án hệ thống siêu xa lộ thông tin, thúc đẩy du lịch trong khu vực, sáng kiến Hành lang bảo tồn đa dạng sinh học và Chương trình môi trường trọng điểm v.v. Bên cạnh hạ tầng cứng, đến nay, các nước tiểu vùng Mê Công đã hoàn thành ký kết tất cả các nghị định thư, phụ lục của Hiệp định GMS nhằm tạo thuận lợi cho việc vận chuyển người, hàng hóa qua biên giới. Chế độ kiểm tra “một cửa, một điểm dừng” đã được triển khai thí điểm tại một số cửa khẩu dọc tuyến hành lang kinh tế Đông – Tây. Các dự án cơ sở hạ tầng như cảng biển như Cái Mép – Thị Vải, cảng biển Lạch Huyện, Hải Phòng (Việt Nam), cầu Neak Loeung (Campuchia), Cầu Mê Công 3 (giữa Lào và Thái Làn) đang được triển khai tích cực trong khuôn khổ hợp tác kinh tế – công nghiệp Mê Công – Nhật Bản.

Hợp tác Tam giác phát triển khu vực biên giới ba nước Việt Nam, Lào, và Campuchia được Thủ tướng ba nước quyết định thành lập năm 2004 nhằm phát huy lợi thế và tiềm năng, rút ngắn khoảng cách phát triển với các vùng, hỗ trợ quá trình phát triển kinh tế – xã hội của 13 tỉnh gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Bình Phước (Việt Nam), Sekong, Attapeu, Saravan, Champasak (Lào), Stung Treng, Rattanak Kiri, Mondul Kiri, Kratie (Campuchia). Trong những năm qua, khu vực Tam giác phát triển đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, xã hội, từng bước thu hẹp khoảng cách với các tỉnh/thành của ba nước. Một trong những thành tựu quan trọng nhất là lĩnh vực xây dựng, nâng cấp mạng mạng lưới giao thông, đặc biệt là các tuyến giao thông đường bộ. Hợp tác đầu tư thương mại cũng đã có những bước tiến quan trọng. Việt Nam cơ bản hoàn thành hệ thống cơ sở hạ tầng thương mại, dịch vụ các khu kinh tế cửa khẩu Bờ Y (Kon Tum) và đang hỗ trợ Lào xây dựng trạm liên kiểm cửa khẩu Phu Cưa, hỗ trợ Campuchia xây dựng chợ biên giới O Yadav (tỉnh Ratanakiri, Campuchia).

Hợp tác tiểu vùng Mê Công đóng góp tích cực thúc đẩy xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển và nâng cao đời sống nhân dân các nước trong lưu vực trong Mê Công. Việc nâng cấp các tuyến đường bộ, cảng biển, đặc biệt là các hành lang kinh tế, đã tạo thuận lợi cho các tỉnh nâng cấp cơ sở hạ tầng dựa vào trục giao thông chính, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang công nghiệp, thương mại và dịch vụ, gắn kết phát triển với các vùng, miền thông qua liên kết giao thông, tạo thêm nhiều việc làm cho người dân địa phương. Nhiều địa phương nghèo đã tận dụng tốt cơ hội từ hợp tác tiểu vùng để vươn lên mạnh mẽ, rút ngắn khoảng cách phát triển với các tỉnh thành khác. Ngoài ra, hợp tác trong lĩnh vực môi trường, y tế, phát triển nguồn nhân lực cũng giúp các nước Mê Công nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và xây dựng mô hình phát triển bền vững.

Việt Nam đã và đang tích cực tham gia các khuôn khổ hợp tác tiểu vùng Mê Công và có nhiều đóng góp cho hợp tác phát triển tiểu vùng Mê Công dưới nhiều hình thức như tổ chức các hội nghị/hội thảo, xây dựng các văn bản quan trọng, xây dựng và thúc đẩy các sáng kiến, và hỗ trợ tài chính cho các nước láng giềng. Sự tham gia tích cực, chủ động của Việt Nam đã góp phần quan trọng củng cố quan hệ hợp tác hữu nghị và láng giềng thân thiện với các nước trong tiểu vùng, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự phát triển của đất nước, từng bước nâng cao vai trò, vị thế và phát huy những lợi thế của Việt Nam trong tiểu vùng Mê Công.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc sử dụng bền vững tài nguyên lưu vực sông Mê Công, Việt Nam luôn tích cực thực hiện Hiệp định Mê Công 1995, thúc đẩy các hoạt động hợp tác về môi trường và quản lý nguồn nước trong các khuôn khổ hợp tác Mê Công. Tại Ủy hội sông Mê Công quốc tế (MRC) Việt Nam đã tích cực cùng với các nước thành viên đàm phán và hoàn thành các quy định và thủ tục về chia sẻ số liệu, giám sát sử dụng nước hiện tại, thông báo và trao đổi ý kiến trước về sử dụng nước, duy trì dòng chảy trên dòng chính sông Mê Công để cụ thể hóa Hiệp định Mê Công và ràng buộc trách nhiệm của các nước thành viên trong việc bảo vệ nguồn nước sông Mê Công. Trong hợp tác ACMECS, Việt Nam là nước đầu tiên đưa ra ý tưởng về việc thành lập nhóm công tác về môi trường, soạn thảo Kế hoạch hành động và đồng chủ trì nhóm công tác. Việt Nam cũng đóng vai trò chủ trì hợp tác về môi trường trong hợp tác Hạ nguồn Mê Công – Mỹ; tham gia tích cực vào sáng kiến “Một thập kỷ Mê Công xanh” trong hợp tác Mê Công – Nhật Bản. Trong GMS, Việt Nam đã tích cực tham gia xây dựng Khuôn khổ chiến lược bảo vệ môi trường GMS; xây dựng hệ thống thông tin và giám sát môi trường; giảm đói nghèo và quản lý môi trường ở các vùng sâu, vùng xa, rừng đầu nguồn; quản lý và bảo vệ đất ngập mặn của hạ lưu sông Mê Công và tăng cường thể chế và đào tạo về bảo vệ môi trường.

Việt Nam đã và đang tham gia tích cực và chủ động vào tất cả các khuôn khổ hợp tác với các đối tác, cùng với các thành viên xây dựng cơ chế làm việc hiệu quả, phát huy thế mạnh của các bên tham gia và đáp ứng nhu cầu phát triển của khu vực tiểu vùng Mê Công. Chúng ta đã tổ chức thành công một loạt các sự kiện quan trọng của hợp tác tiểu vùng Mê Công trong năm 2010 như Hội nghị Cấp cao Mê Công – Nhật Bản lần thứ 2, Hội nghị Bộ trưởng Mê Công – Nhật Bản lần thứ 3 và Hội nghị Bộ trưởng Mê Công – Mỹ lần 2. Việt Nam cũng đóng vai trò chủ đạo trong cơ chế hợp tác Campuchia – Lào – Việt Nam (CLV), đã chủ trì thực hiện rà xoát và xây dựng Quy hoạch lại Tam giác phát triển đến 2020, xây dựng trang mạng riêng của TGPT bằng bốn thứ tiếng (Việt, Anh, Lào, và Khơ-me). Chúng ta cũng đã hỗ trợ Lào và Campuchia trong việc xây dựng một số tuyến đường chính liên kết các tỉnh biên giới, xây dựng chợ biên giới, trạm liên kiểm. Các doanh nghiệp Việt nam đang tích cực đầu tư vào các tỉnh của Lào và Campuchia trong khu vực TGPT với phương châm “vốn, kỹ thuật và thị trưởng của Việt Nam, lao động và tiềm năng đất đai của Lào và Campuchia”. Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Việt Nam tiếp nhận nhiều cán bộ, sinh viên từ Lào và Campuchia sang học tại trường Đại học Tây Nguyên, và hỗ trợ xây dựng trường phổ thông nội trú tại tỉnh Sêkông (Lào) và Ratanakiri (Campuchia). Trong cơ chế hợp tác Campuchia – Lào – Mi-an-ma – Việt Nam (CLMV), Việt Nam đã xây dựng quỹ học bổng CLMV nhằm cung cấp đều đặn hàng năm các xuất học bổng cho ba nước Campuchia, Lào, Mi-an-ma. Đây là một trong 58 dự án điểm đầu tiên được thực hiện và cũng là một trong những kết quả nổi bật của cơ chế hợp tác CLMV.

Có thể nói trong thập kỷ qua, hợp tác phát triển tiểu vùng Mê Công đã có những đóng góp quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của tất cả các nước trong khu vực. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả của hợp tác tiểu vùng Mê Công lên xứng với tiềm năng và lợi thế của khu vực, trong giai đoạn tới, các nước Mê Công cần tiếp tục tăng cường phối hợp, chính sách ở tầm vĩ mô, và tìm hướng đi thích hợp cho các cơ chế và khuôn khổ hợp tác. Về phần mình, Việt Nam luôn coi trọng các cơ chế hợp tác khu vực Mê Công và sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các nước Mê Công cũng như các đối tác phát triển để có những đóng góp tích cực và cụ thể hơn nữa, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, hoà bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn

Theo tin Bộ Ngoại Giao Việt Nam

This entry was posted in Kinh tế. Bookmark the permalink.
0 comments