Thời của nông nghiệp hữu cơ?

Mới đây, tại TPHCM đã diễn ra hội thảo quốc gia với chủ đề “Nông nghiệp hữu cơ: Thực trạng & định hướng phát triển” do Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ VN, Cục Trồng trọt, Viện Khoa học Nông nghiệp VN tổ chức.

Thời của nông nghiệp hữu cơ?

Việt Nam có thế mạnh ở những nông sản hữu cơ đang có tỷ trọng lớn trên thị trường thế giới như cà phê, chè, rau quả.

Với các nước phát triển thì nông nghiệp hữu cơ (NNHC) không xa lạ nhưng ở Việt Nam (VN) thì còn mới mẻ, không những với nông dân mà còn cả với những cán bộ nông nghiệp, mà bằng chứng là hơn 250 đại biểu hầu như không ai bỏ về trước.

Mặc dù chưa có tên trên bản đồ NNHC thế giới nhưng VN đã nhen nhóm một thị trường ở các thành phố lớn mà chủ yếu là Hà Nội và TPHCM và đã có những cơ sở chuyên sản xuất mặt hàng này. Ở Sóc Sơn (Hà Nội) có mô hình SX rau hữu cơ Thanh Xuân, Lâm Đồng có Organik Đà Lạt, Cà Mau có GreenFarm Viễn Phú, Lào Cai có che Shan Bắc Hà, Hà Giang có chè Shan Quang Bình…

Những mô hình trên đã có những sản phẩm đầu tiên cung ứng ra thị trường, Organik Đà Lạt cung cấp cho các nhà hàng khách sạn lớn ở TPHCM, Đà Nẵng, Hà Nội và Cty dịch vụ suất ăn hãng hàng không Jetstar, chè Shan xuất bao 40 kg sang châu Âu để đối tác đóng gói lại theo logo của họ.

Riêng mô hình rau hữu cơ Thanh Xuân (Hà Nội) năm 2012 đã cung cấp được 167 tấn rau cho thị trường (bán lẻ không theo hợp đồng là 5,7 tấn).

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Bộ, GĐ Viện Khoa học Nông nghiệp VN (VAAS), thị trường của NNHC chủ yếu ở các nước Âu, Mỹ với tổng giá trị đạt 59,1 tỷ USD vào năm 2010, tăng 4,2 tỷ USD so với năm 2009 và gấp 3 lần so với năm 2000. Tổng diện tích canh tác hữu cơ năm 2010 đã đạt 80 triệu ha (bao gồm cả diện tích hoang dại những cho thu hoạch sản phẩm hữu cơ).

Cơ hội lớn nhất là VN đã manh nha thị trường nội địa của tầng lớp trung lưu, các nhà hàng khách sạn cao cấp (phần lớn đang phải nhập khẩu) và thị trường thế giới cũng đang có mức tăng trưởng nhanh. VN có thế mạnh ở những nông sản hữu cơ đang có tỷ trọng lớn trên thị trường thế giới như cà phê, chè, rau quả.

Điều quan trọng hơn là phương cách hóa học hóa nông nghiệp để thâm canh, tăng vụ mà VN theo đuổi suốt 40 năm qua hình như đã chạm trần. Tuy tạo ra được nhiều nông sản nhưng chất lượng kém nên thu nhập của đại bộ phận nông dân vẫn thấp do phải cạnh tranh thị trường ở phân khúc giá rẻ.

Việc SX nông sản cao cấp hơn, bán với giá cao hơn đang là sự thôi thúc nội tại của nền kinh tế, hộ nông dân. Hiện tượng bỏ hoang ruộng đang diễn ra trầm trọng là một bằng chứng.

Mặt khác toàn xã hội đang bức xúc về nông sản không an toàn do việc sử dụng bừa bãi hóa chất, kháng sinh, hóc môn kể cả trong trồng trọt, chăn nuôi lẫn nuôi trồng thủy sản. Điều dễ thấy nhất là vấn nạn “loạn” hóa chất BVTV và phân bón hóa học (NNVN đã phản ánh liên tục trong nhiều số báo gần đây);

VN đã có truyền thống SX nông nghiệp hữu cơ từ nghìn đời nay và đang được sự giúp đỡ của một số tổ chức quốc tế, đặc biệt là tổ chức IFOAM; VN là nước đi sau (hiện đã có 86 nước có NNHC và 76 nước khác đang thu thập dữ liệu) nên có thể dễ dàng học tập kinh nghiệm.

Ngoài một số mô hình do nước ngoài tài trợ, còn có một số DN tự mày mò phát triển 7 – 8 năm nay và đã bắt đầu xác lập được vị thế của mình. Năm 2006, Bộ NN-PTNT đã ban hành tiêu chuẩn về SX NNHC và chế biến, là cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức và phát triển.

Hệ thống NNHC (cũng như rau an toàn, VietGAP) thực chất không phải là kỹ thuật, chuyển đổi tập quán SX mà chủ yếu là do công tác tổ chức, quản lý mà VN lại có thế mạnh ở hệ thống chính trị.

Khi được hỏi về động cơ, ông Lê Quốc Phong, TGĐ Cty CP Phân bón Bình Điền, Phó Chủ tịch Hiệp hội NNHC, nhà tài trợ chính cho hội thảo cho biết: “Việc một nhà SX phân vô cơ làm tiên phong và tài trợ chính cho NNHC là không nên ngạc nhiên vì Bình Điền sẽ “đi bằng 2 chân” và đây là bước chuẩn bị cho 10 năm sau”.

10 năm là nhanh hay chậm? Trước đây cách mạng xanh cũng phải mất 10 năm để khởi động và kéo dài đến 40 năm mới bộc lộ các nhược điểm mà NNHC là sự điều chỉnh cần thiết.

Động cơ đẩy cách mạng xanh đến thành công là vấn nạn thiếu lương thực. Động cơ này vẫn còn đó, 1 tỷ người trên hành tinh vẫn đang có thu nhập dưới 01 USD/ngày. Với các nước thiếu đất như VN (chỉ bằng 8,7% mức bình quân của thế giới) thì an ninh lương thực vẫn được đưa lên hàng đầu và việc thâm canh (kể cả sử dụng vật liệu chuyển gen GMO) vẫn phải được duy trì.

Không phải chỉ có VN, mà tất cả các nước trên thế giới đều vậy, mà bằng chứng là chỉ có Úc, Newzealand, châu Âu, Mỹ, những nước có đất mênh mông mới có NNHC phát triển, chiếm đến 96% diện tích NNHC.

Không thể bỏ qua cơ hội SX NNHC nhưng cũng không thể xem nhẹ an ninh lương thực, an sinh xã hội. Công tác quy hoạch phải vẽ nên bức tranh cho nông nghiệp VN 10 năm, 20 năm sau sao cho hài hòa cả về tỷ trọng, diện tích, ngành hàng để từ đó có những chính sách cần thiết.

Cách đây 2 tháng, một cán bộ của Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội vào TP HCM nhờ người viết bài này đi tìm và thuê trang trại để canh tác NNHC “tự trồng lấy rau, nuôi lấy gà, lợn, thả lấy cá” cung cấp cho một số gia đình theo hợp đồng.

Nông nghiệp hữu cơ, theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, là hệ thống canh tác và chăn nuôi tự nhiên, không sử dụng hóa chất làm phân bón và thuốc trừ sâu, giúp giảm thiểu ô nhiễm, bảo đảm sức khỏe cho người và vật nuôi. Nông nghiệp hữu cơ là hình thức sản xuất nông nghiệp đặc biệt áp dụng “4 không”. Biện pháp kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ là Nông dân canh tác theo hình thức nông nghiệp hữu cơ vận dụng tối đa các kỹ thuật để duy trì và làm giàu độ màu mỡ lâu dài cho đất để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, kiểm soát cỏ, côn trùng và các loại sâu bệnh khác.

Hiện nay nông nghiệp hữu cơ đang được tiếp tục nghiên cứu và phát triển và ở mỗi vù mỗi quốc gia tùy theo điều kiện và cách tiếp cận của mình lại có nhưng quy định về nông nghiệp hữu cơ khác nhau. Nông nghiệp hữu cơ cũng chia ra nhiều mức độ như 70% hữu cơ, 80 % hữu cơ hay 100% hữu cơ. Tổ chức Nông Nghiệp Hữu Cơ thế giới viết tắt là IFOAM

Theo Nông Nghiệp Việt Nam

This entry was posted in Đầu tư and tagged . Bookmark the permalink.

Related Posts